Đường dây nóng: 08.39240450

Hỗ trợ trực tuyến

  • HCM TP. HCM Q.5
  • Lâm Đồng - Bảo Lộc Lâm Đồng - Bảo Lộc
  • Toàn Quốc Toàn Quốc
Nội dung tin tức và sự kiện
phat-trien-nganh-che-gan-nang-cao-chat-luong--gia-tri-san-pham [17-07-2012 14:21:41] 
Phát Triển Ngành Chè Gắn Nâng Cao Chất Lượng, Giá Trị Sản Phẩm

Nói đến Hà Giang, một trong những sản vật được mọi người nhắc đến nhiều nhất đó là chè. Hình ảnh những cây chè cổ thụ tắm mình trong sương trên triền núi cùng những sơn nữ má hồng mải miết thu hái chè đã trở thành biểu tượng đẹp của miền đất Hà Giang.

Với những tên chè từ các vùng Cao Bồ, Thượng Sơn, Hồ Thầu, Lũng Phìn..., chè Hà Giang đã lưu luyến biết bao du khách một lần thưởng thức. Mặc dù là vùng chè có truyền thống, với tiềm năng, lợi thế lớn về đất đai, khí hậu, song giá trị của cây chè trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn khiêm tốn. Thương hiệu và giá sản phẩm chè Hà Giang vẫn còn "yếu" trong một cơ chế thị trường đầy cạnh tranh...

 

Ngành chè và một số kết quả trong những năm qua:

Là tỉnh có diện tích chè đứng thứ 3 cả nước, chỉ sau Thái Nguyên và Lâm Đồng. Chúng ta hiện có trên 20.200ha chè, trong đó trên 16 ngàn ha đã cho thu hoạch. Trước nhu cầu thị trường, diện tích chè cũng tăng lên mạnh mẽ trong những năm qua, từ khoảng 14,4 ngàn ha năm 2005 đã tăng lên trên 20.200ha năm 2011. Nhờ sự chú trọng đến kỹ thuật chăm sóc nên năng xuất, sản lượng chè búp tươi của tỉnh tăng lên đáng kể. Ước tính hiện nay, năng xuất đạt 38tạ/ha, tăng gần 7 tạ so với năm 2005; sản lượng chè năm 2011 ước đạt gần 61 ngàn tấn.


Theo thống kê của ngành NN&PTNT, toàn tỉnh hiện có 1 công ty cổ phần, 6 công ty, doanh nghiệp, 23 hợp tác xã và trên 700 cơ sở chế biến chè quy mô nhỏ. Việc sản xuất, kinh doanh chè của chúng ta đang có những bước vươn lên, nắm bắt thị trường, đồng thời tạo cơ hội phát triển kinh tế, XĐGN và giải quyết việc làm cho không ít hộ gia đình. Các doanh nghiệp, cơ sở chế biến bước đầu chú trọng đến xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường bên ngoài. Qua đó, đã nổi lên các thương hiệu được thị trường biết đến như chè Hùng An, Thượng Sơn, Phìn Hồ, Fìn Hò Trà. Có đơn vị đã xuất khẩu chè trực tiếp ra nước ngoài như doanh nghiệp Hùng Cường (Vị Xuyên). Doanh nghiệp này từ năm 2007 đến nay đã xuất khẩu khoảng 8.800 tấn chè với giá trị xuất khẩu đạt trên 11,4 triệu USD.


Nhận thức được nhu cầu thị trường ngày càng mạnh mẽ, những năm qua tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển ngành chè như: Cho các hộ gia đình vay vốn hỗ trợ 100% lãi suất để trồng mới, thâm canh và cải tạo chè già cỗi. Nâng mức đầu tư cho vay trồng mới và kéo dài thời gian hỗ trợ lãi suất lên 5 năm. Đối với các doanh nghiệp ký kết hợp đồng với người nông dân để trồng và thu mua chè được vay vốn, ngân sách tỉnh hỗ trợ đến 50% lãi suất trong thời gian 3 năm để nâng cấp, đầu tư xây dựng mới cơ sở chế biến chè. Các sản phẩm của công ty, doanh nghiệp, hộ gia đình kinh doanh chè trên địa bàn được hỗ trợ xây dựng, đăng ký thương hiệu, quảng bá sản phẩm lần đầu với mức hỗ trợ 50%...


Những khó khăn, thách thức:

Dù đã có những chuyển động tích cực, song muốn vươn lên như các tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái..., đòi hỏi chúng ta cần nhìn nhận thực tế khó khăn đang đặt ra. Theo đánh giá, dù chúng ta có diện tích chè khá lớn, nhưng diện tích phân tán. Địa hình chia cắt cũng khiến các diện tích chè manh mún, không thuận lợi cho sản xuất công nghiệp. Cùng với đó là không ít diện tích chè đã trồng lâu năm và nhiều diện tích chè cổ thụ..., sản lượng thấp. ước tính, hiện toàn tỉnh có khoảng trên 9.200ha chè không đảm bảo mật độ, trên 8.800ha trồng phân tán và trên 3 ngàn ha chè cổ thụ. Cùng với đó, hầu hết chè của chúng ta được trồng bằng phương pháp gieo hạt trực tiếp hoặc trồng bầu ươm hạt, khâu kỹ thuật chăm sóc của người dân còn hạn chế nên năng suất thấp. Qua đó, năng suất của chúng ta chưa bằng 50% năng suất chè của các tỉnh như Phú Thọ, Thái Nguyên. Đồng thời, giá trị sản xuất của chè búp tươi chiếm rất thấp trong cơ cấu giá trị ngành trồng trọt của tỉnh. Năm 2008 là năm cao nhất cũng chỉ chiếm khoảng 9,7% cơ cấu giá trị trồng trọt, năm 2010 chỉ chiếm 5,43%.


Quy trình từ trồng, thu mua, sản xuất, quảng bá và phát triển thị trường chè của chúng ta vẫn còn rất kém so với nhiều địa phương khác. Hiện nay, trong toàn tỉnh có rất ít doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu chè và ký hợp đồng thu mua chè ổn định. Tình trạng tranh mua, tranh bán và sự không thống nhất giữa người trồng và người mua khiến cho cả người nông dân lẫn người sản xuất gặp bất lợi. Từ đó, dẫn đến giá chè búp tươi không ổn định, khiến người dân không mặn mà với việc đầu tư phát triển chè...


Đối với các cơ sở chế biến cũng bộc lộ nhiều hạn chế như trang bị máy móc không đồng bộ. Hầu hết các cơ sở chế biến mi ni và một số hợp tác xã sử dụng thiết bị máy vò, máy sao lăn được làm gia công... Từ đó, dẫn đến nhiều đơn vị chủ yếu chế biến chè bán thành phẩm, sản phẩm xuất bán đa phần dưới dạng nguyên liệu thô. Một chuyên gia trong ngành chè của tỉnh cho biết đã từng thấy việc chè nguyên liệu thô của chúng ta xuất ra nước ngoài để họ chế biến, dùng nhãn mác của họ đóng gói, tiêu thụ với giá cả triệu bạc cho 1kg. Chủ một cơ sở chế biến tại Vĩnh Tuy, Bắc Quang tâm sự, thấy chất lượng chè Hà Giang khá tốt, một số doanh nghiệp ở Phú Thọ đã có ý thu mua chè do cơ sở của ông làm để về dùng thương hiệu của họ đóng gói biến thành sản phẩm của họ... Việc đăng ký thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm chè của các cơ sở chế biến cũng còn nhiều hạn chế. Điều đó đã dẫn đến giá thành sản phẩm của chúng ta đạt rất thấp so với chè ở các địa phương khác. Qua tìm hiểu trên thị trường cho thấy, ngoài một số doanh nghiệp xuất thô ra ngoài tỉnh và nước ngoài, chè Hà Giang chủ yếu được tiêu thụ nội địa với giá bán cho chè xanh loại trung bình từ 70 – 80.000đ/kg; chè chất lượng từ 150 – 200.000đ/kg.


Đưa cây chè vào vị trí cây làm giàu:

Đây là chăn trở của không chỉ người trồng, người sản xuất, kinh doanh chè mà cả cấp ủy, chính quyền các cấp. Về phía tỉnh, đã xây dựng chủ trương trong thời gian tới đó là ổn định diện tích chè hiện có, đẩy mạnh thâm canh, cải tạo các diện tích chè già, áp dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng chè. Theo ông Đoàn Anh Tuân, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam và nhiều chuyên gia trong ngành chè của tỉnh, nhu cầu thị trường hiện nay đang mở ra cơ hội cho chè Hà Giang. Do đó, cùng với việc phải quy hoạch lại ngành chè, chúng ta cần có tư duy xây dựng cây chè trở thành cây làm giàu; cần phát triển chè theo hướng công nghiệp ở vùng thấp, đẩy mạnh sản xuất chè chất lượng cao ở vùng cao. Trước mắt cần phải tổ chức, liên kết chặt chẽ giữa các hộ trồng chè trong sản xuất và tiêu thụ. Đồng thời, để nâng cao chất lượng, tỉnh cần quan tâm mạnh đến việc quản lí về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, chú trọng mạnh mẽ đến khâu tuyên truyền, quảng bá và xây dựng thương hiệu. Trong quá trình phát triển, chúng ta cũng cần lưu ý đến thị trường Trung Quốc để có sự chủ động, linh hoạt trong sản xuất, tiêu thụ. Tỉnh cần quan tâm xây dựng những doanh nghiệp nòng cốt để kéo ngành chè phát triển...

HUY TOÁN
 

  CÁC TIN KHÁC CÙNG CHUYÊN MỤC
  Phát Triển Ngành Chè: Chú Trọng Giám Sát Chất Lượng, Đảm Bảo An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm   [17-07-2012 14:20:21] 
  Cơ Cấu Kinh Doanh Ngành Hàng Chè & Cà Phê Eu   [17-07-2012 14:19:17] 
  Năm 2012: Đầu Tư Vào Chè, Cà Phê Sẽ Thu Lợi Lớn   [17-07-2012 14:17:08] 
  Làm thế nào để ngành trà phát triển bền vững?   [17-07-2012 14:11:33] 
  Giá Cà Phê Tăng Mạnh   [17-07-2012 14:08:05] 
  Tăng Khả Năng Cạnh Tranh Cho Cà Phê Việt Nam   [17-07-2012 14:03:57] 
  “Hiến Kế” Phát Triển Bền Vững Ngành Cà Phê   [17-07-2012 12:59:11] 
  Việt Nam Tham Dự Hội Nghị Cà Phê Thế Giới   [17-07-2012 12:54:51] 
  Coffeenetwork Nâng Dự Báo Sản Lượng Cà Phê Việt Nam Vụ 2011-2012   [17-07-2012 12:50:28] 
  Tại sao cà phê việt nam dễ bị ép giá?   [17-07-2012 12:44:28]